TAHUDA-Data central

TAHUDA là một bách khoa toàn thư mở với mục đích chính là cho phép mọi người đều có thể viết bài bằng nhiều loại ngôn ngữ trên Internett. TAHUDA đang là công trình tham khảo viết chung lớn nhất và phổ biến nhất trên Internet. TAHUDA có một bộ quy định để lựa chọn loại thông tin nào để bao gồm trong dự án. Nhiều khi những quy định này được chú thích khi bàn cãi về việc cộng thêm, sửa lại, di chuyển, hoặc xóa một bài viết. Vikidata khuyến khích những người đóng góp theo quy định Thái độ trung lập, bằng cách tóm tắt các quan điểm quan trọng để tới gần sự thật khách quan. Việc dùng Vikidata như nguồn tham khảo đã gây ra tranh luận vì tính mở của nó làm nó có thể bị phá hoại, bị sửa không đúng, hoặc không bao gồm các chủ đề đều đặn, hoặc có ý kiến không có căn cứ. Nó cũng bị chê là có thiên vị nhất quán, đặt cao ý kiến số đông hơn là bằng cấp, sự thiếu trách nhiệm cũng như kiến thức chuyên môn của người viết khi được so sánh với những bách khoa toàn thư thông thường. Tuy nhiên, sự rộng rãi và cặn kẽ của nó, và tính năng được cập nhật liên tục, đã làm dự án trở thành nguồn tham khảo hữu ích đối với hàng triệu người. TAHUDA là một công bố thông tin tự do, là kết quả của sự cộng tác của chính những người đọc từ khắp nơi trên thế giới. Trang mạng này có tính chất viki, có nghĩa là tất cả mọi người đều có thể đóng góp nội dung ở bất cứ trang nào bằng cách bấm vào các liên kết Đóng góp nội dung, hoặc Liên hệ niêm yết thông tin dữ liệu. Có ở hầu hết các trang, ngoại trừ các cá nhân bị tước quyền sửa đổi và những trang bị khóa. Với niềm tin tưởng mạnh mẽ những giá trị đạo đức đẹp đẽ sẽ là chìa khóa giúp độc giả tìm thấy lời giải cho những bề bộn và trăn trở về cuộc sống, Vikidata cố gắng đăng tải các bài viết hay nhất tìm về giá trị văn hóa truyền thống được lưu truyền từ ngàn năm – cội nguồn thuần khiết và đẹp đẽ nơi nhân loại bắt đầu; đề cao các giá trị đạo lý, nhân sinh, tín ngưỡng đối với Thần Phật – niềm tin bất tử để chúng ta luôn vững vàng và bình yên trong biển lớn đầy sóng gió của cuộc sống này. Trong sâu thẳm mỗi độc giả đều là “những người hùng chân chính”, luôn tìm kiếm chính nghĩa và thiện lương.Hy vọng những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc về lòng nhân ái, các phép tắc lễ nghĩa và các giá trị nhân văn sẽ được tất cả mọi người đón nhận, thực hành trong đời sống hàng ngày và tiếp tục lưu truyền cho thế hệ tương lai. TAHUDA tin rằng ở đâu có Chân – Thiện – Nhẫn, thì ở đó đạo đức và trí tuệ sẽ thăng hoa. Nếu mỗi người trên thế giới đều trở nên vị tha và hạnh phúc thì thế giới sẽ mau chóng trở thành một nơi mà tình thương yêu và trí tuệ ngự trị. TAHUDA kính chúc độc giả gần xa tràn đầy niềm vui và niềm tin, an lành, hạnh phúc. Mong độc giả thân yêu sẽ luôn đồng hành cùng chúng tôi bước vào Kỷ Nguyên mới.

Phạm Ngũ Lão - Tiểu sử

Phạm Ngũ Lão - Tiểu sử
Tranh vẽ Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt bên đường, mặc cho quân lính đâm giáo vào đùi vẫn không thấy đau.

Phạm Ngũ Lão (chữ Hán: 范五老; 1255–1320) là danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người góp công rất lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288. Đương thời, danh tiếng của ông chỉ xếp sau Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - người được xem như vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Cuộc đời và sự nghiệp

Phạm Ngũ Lão, người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam). Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh. Ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái. Khi ở làng có người đỗ Tiến sĩ (Bùi Công Tiến) tổ chức ăn mừng, cả làng kéo đến, riêng Ngũ Lão thì không. Người mẹ hỏi con tại sao không đến, Ngũ Lão thưa với mẹ: chí làm trai phải lập công danh rạng rỡ non sông mà con chưa lập được bằng người, đi mừng người ta nhục lắm. Cũng thời gian ấy, Hưng Đạo Vương có việc quân qua vùng đất Phù Ủng. Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt ngoài đường mải nghĩ về cuốn sách Binh thư nên không biết quan quân trảy đến. Một người lính dẹp đường quát mãi, chàng trai đan sọt vẫn cứ ngồi yên. Người lính bèn dùng giáo xuyên vào đùi kẻ cản đường, vậy mà người đan sọt cứ như không. Qua đối đáp trôi chảy của chàng trai nông dân, Tướng công thầm hiểu đây sẽ là một vị lương tướng của triều đình. Ông sai lính lấy thuốc trị vết thương rồi cho vời về triều. 

Sau khi về kinh đô, Hưng Đạo Vương tiến cử Phạm Ngũ Lão lên Triều đình với chức cai quản quân Cấm vệ. Vệ sĩ biết ông là nông dân thì không phục bèn xin tâu được cùng ông thử sức. Phạm Ngũ Lão bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức, ông xin về quê 3 tháng. Về quê, ngày nào Phạm Ngũ Lão cũng ra cái gò lớn ngoài đồng, đứng cách một tầm mà nhảy lên, nhảy mãi cho đến khi cái gò bị sạt mất một nửa. Hết hạn, ông trở về cấm thành, cùng các vệ sĩ so tài. Thấy ông tiến thoái như bay, tay đấm, chân đá thoăn thoắt, xem ra sức có thể địch nổi cả vài chục người. Từ đó, quân vệ sĩ bái phục ông. 

Giai thoại giáo đâm thủng đùi không biết đau

 

Theo sách Giai thoại Lịch sử Việt Nam, khi giặc Nguyên kéo sang xâm lược nước ta lần thứ hai (năm 1285), vua Trần Nhân Tông giao cho Trần Hưng Đạo làm Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội.

Một hôm, đoàn quân của Trần Hưng Đạo từ Vạn Kiếp về Thăng Long, thấy một thanh niên ngồi đan sọt bên vệ đường. Mặc quân lính quát tháo, anh chàng vẫn không để ý. Lính bực mình, lấy giáo đâm thủng đùi, chàng thanh niên không hề đau đớn, vẫn thản nhiên ngồi đan sọt như không có chuyện gì xảy ra.

Sau khi được báo, Trần Hưng Đạo bước tới chỗ người lạ. Lúc này, chàng thanh niên mới ngước nhìn lên, trông thấy tướng quân, vội vàng chắp tay làm lễ.

Khi Trần Hưng Đạo hỏi vì sao không tránh đường cho quân đi, Phạm Ngũ Lão giải thích rằng: “Tôi ngồi ở đây đan sọt, nhưng bụng thì lo nước nhà bị quân Nguyên tàn phá, óc mãi nghĩ kế chống lại chúng. Vì vậy, đại quân của tướng quân kéo tới, quả thật tôi không biết gì!”.

Lời nói đầy nghĩa khí của Phạm Ngũ Lão lập tức chiếm được cảm tình của vị quốc công Tiết chế.  Vị đại tướng đã sai quân lính đem thuốc băng bó vết thương cho Phạm Ngũ Lão, cho lên một chiếc xe đưa về Thăng Long, để tiến cử lên triều đình. Từ đây, Phạm Ngũ Lão chính thức trở thành môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Phạm Ngũ Lão được Hưng Đạo Vương tiến cử cho cai quản quân cấm vệ. Vệ sĩ thấy thế không phục, bèn tâu xin được thử sức. Phạm Ngũ Lão bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức, ông xin về quê ba tháng.

Ngày nào ông cũng ra cái gò lớn ngoài đồng, nhảy cho đến khi gò bị sạt mất một nửa. Hết hạn, ông trở về cấm thành, cùng vệ sĩ so tài. Thấy ông tiến thoái như bay, tay đấm chân đá vùn vụt, quân lính bái phục Phạm Ngũ Lão và nhận ông làm vị chỉ huy cao nhất của họ.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285), Phạm Ngũ Lão cùng Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền lớn của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long.

Sau đó, ông phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía Bắc, diệt được nhiều tướng địch. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba (1287-1288), Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng, sau đó truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ.

Ngoài ra, Phạm Ngũ Lão còn ba lần cất quân đi trừng phạt quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành.

Học theo tấm gương của Trần Hưng Đạo, ông là người yêu tướng sĩ như con, đồng cam cộng khổ, nhưng đồng thời cũng hết sức nghiêm minh.

Theo những tư liệu lịch sử còn lưu lại đến nay, suốt sự nghiệp cầm quân lừng lẫy của mình, Phạm Ngũ Lão chưa hề biết mùi thất bại.

Không chỉ là danh tướng lỗi lạc trên chiến trường, Phạm Ngũ Lão còn là người có tài văn chương đích thực. Bài thơ Thuật Hoài của ông chất chứa khí phách hào hùng của người nam nhi Đại Việt, mãi là tấm gương sáng cho muôn đời.

Quân sự

Trong hai cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285-1288) Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang 3 vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lý Quán và Lý Hằng.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng, trong trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng nhà Nguyên là Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi. Phạm Ngũ Lão tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ.

Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Năm Giáp Ngọ (1294) nhờ lập công khi đi đánh ở Ai Lao, ông được ban Kim Phù (tức binh phù làm bằng vàng). Năm Đinh Dậu (1297) cũng nhờ lập công khi đi đánh trận ở Ai Lao, ông được ban Vân Phù (tức binh phù có khắc chạm hình mây). Năm Tân Sửu (1301), ông được phong làm Thân Vệ Đại tướng Quân và được ban Quy Phù (tức binh phù có chạm hình con rùa). Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. Một người con gái của Phạm Ngũ Lão hiệu là Tĩnh Huệ là thứ phi của vua Anh Tông

Phạm Ngũ Lão đã ba lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao vào các năm 1294, 1297 và 1301; hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành vào năm 1312, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng và 1318 vua Chế Năng phải bỏ chạy sang Java

Văn học

Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiếc là hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).

Đời tư

Nhiều tài liệu và truyền tụng kể rằng, vì yêu quý và mến tài của Phạm Ngũ Lão nên Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã gả con gái thứ hai cho ông. Theo lệ nhà Trần, hoàng tộc không gả con cho người ngoại tộc, chính vì vậy để làm được điều đó một cách thuận tình đạt lý, Trần Hưng Đạo đã phải giáng con gái Anh Nguyên xuống làm con nuôi. 

  • Người con gái của vị Quốc công Tiết chế

Tuy nhiên một số sách vở lại chép rằng, Anh Nguyên quận chúa thực sự là con gái nuôi chứ không phải con đẻ của Trần Hưng Đạo, trong Lịch triều hiến chương loại chí có đoạn viết về Phạm Ngũ Lão như sau: “Ông người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào. Năm ông ngoài 20 tuổi, Hưng Đạo vương thấy, biết là người có tài lạ bèn gả con gái nuôi cho và tiến cử lên”. Ghi chép này không phải là không có căn cứ, thậm chí có địa phương còn xác nhận quê quán, thân thế của Anh Nguyên quận chúa. 

Theo truyền tụng tại trang Đào Thôn, sau đổi là làng Đào Động, huyện Phụ Phượng (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) thì Anh Nguyên quận chúa là người làng này. Đây là vùng đất đẹp, cùng với các làng Lộng Khê, Tô Đê, A Sào từ đời Lý đã được tôn là: “Lý triều tứ cố cảnh”.

Chuyện kể rằng một lần Trần Hưng Đạo dẫn quân qua đây, các bô lão và dân làng vui mừng chào đón, họ cử một cô gái tên là Đào Nữ ra hầu việc rót trà tiếp nước cho ngài. Thấy cô gái trẻ xinh đẹp, nhanh nhẹn, đối đáp thông minh, đoàn trang đức hạnh, Trần Hưng Đạo thấy yêu mến, ông nhận xét đây là “mỹ nữ lạc nơi thôn dã” và nhận cô gái ấy làm nghĩa nữ (con gái nuôi) và đặt cho tên mới là Anh Nguyên. Từ một cô gái thôn quê, do cơ duyên may mắn trở thành con gái nuôi của vị danh tướng kiệt xuất triều Trần mà Đào Nữ (Anh Nguyên) được phong tước quận chúa.

Không chỉ đảm đang việc nội trợ, nữ công mà Anh Nguyên còn giỏi võ nghệ, có tài thao lược khiến Trần Hưng Đạo rất ngạc nhiên, thán phục. Về sau ông giao cho con gái nuôi cai quản một cánh thủy quân và nàng thường xuyên cho quân huấn luyện, thao diễn trên một đầm nước rộng lớn ở làng mình, vì thế đầm nước đó được gọi là “đầm Bà”. Cũng trong thời gian ấy, nhiều tướng lĩnh trong đó có Phạm Ngũ Lão cũng về huyện Phụ Phượng hội quân để chuẩn bị chống đánh giặc Nguyên Mông. Trước cảnh đẹp của vùng đất này, tướng quân họ Phạm xúc cảm thành thơ:

Xuân đến lung linh rợp cờ trời hoa,

Hạc về để tiễn gió thu qua.

Dưới bóng trời, mây đều rực rỡ,

Đáng cảnh thần tiên nhất nước nhà.

Mến cảnh rồi mến cả người, trai tài gái sắc gặp nhau, Phạm Ngũ Lão và Anh Nguyên quận chúa đem lòng yêu thương nhau, lại được Trần Hưng Đạo vun đắp, tác hợp chuyện tình yêu. Sau này, khi đất nước sạch bóng ngoại xâm, Trần Hưng Đạo đã xin vua cho con gái nuôi được mở tư dinh ở Đào Động. 

Trần Hưng Đạo gả con gái nuôi cho tướng quân Phạm Ngũ Lão (Hình minh họa)

Dù trở thành bậc cành vàng, lá ngọc cao sang nhưng Anh Nguyên quận chúa vẫn gắn bó với quê hương, nàng làm nhiều việc có ích cho dân quê, xóm làng, lại cùng chồng bỏ tiền hưng công tu bổ đình chùa, đền miếu trong vùng… Ân đức ấy được người dân nhớ mãi, nay trong lời ca hát văn ở Đào Động, bài văn thỉnh mẫu Anh Nguyên có câu rằng:

Nhà phúc sinh trang quốc sắc,

Đất thiêng đón khách anh hùng.

Đầm Bà nhắc chuyện muôn xưa,

Sông Vật nhớ thời trận mạc.

Nay quận chúa xa chơi cõi hạc,

Quan Điện tiền về chốn tiên nga.

Ơn đức chan chan sáng mãi không mờ,

Nén hương thơm dâng người thiên cổ.

  • Cơ duyên với cô gái đẹp đất Kiện Khê

Ngoài chuyện tình của Tướng quân Phạm Ngũ Lão với Anh Nguyên quận chúa ra, ít thấy tư liệu, sử sách nào đề cập thêm về đời tư của ông nên hậu thế không mấy người được biết về người vợ thứ hai của Phạm Ngũ Lão.

Chuyện kể rằng, một lần Tướng quân Phạm Ngũ Lão dẫn quân đi đánh trận, qua vùng Kiện Khê, huyện Thanh Liêm (nay là thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) thì gặp một đội nghĩa binh kéo ra xin đi theo. Tướng quân Phạm Ngũ Lão nghe lính ở tiền quân chạy đến báo tin, lấy làm ngạc nhiên liền phóng ngựa tiến nhanh về phía trước.

Bấy giờ chỉ huy toán nghĩa binh là một thiếu nữ trẻ đẹp, nai nịt gọn gàng bước ra đứng trước hàng quân chắp tay, cúi đầu nói: “- Nước có giặc, làm tôi con của triều đình không thể không dốc sức vì vua. Chúng tôi đây ở chốn quê mùa, tài hèn sức mọn nhưng nguyện đem thân mình để báo đền ơn nước, dẫu có chết cũng cam lòng, xin tướng quân thu nhận”.

Thấy người nữ tướng, Phạm Ngũ Lão liền xuống ngựa hỏi: “- Tôi vâng mệnh triều đình đi đánh giặc Thát Đát, thế lực của chúng rất mạnh, muốn thắng được phải nhờ sức của muôn dân, nhưng nàng là phận nữ, vốn quen với việc kim chỉ, thêu thùa làm sao có thể cầm cây giáo dài, giương cây cung nặng được?” Cô gái liền đáp:

“- Kính thưa tướng quân, nước mất thì nhà tan, đánh giặc là việc chung của mọi người, đâu phải chỉ là việc của quân lính triều đình. Xưa kia đã có Bà Trưng, bà Triệu, sau còn có bao nữ kiệt anh hùng khác. Gương sáng tỏ như nhật nguyệt, uy danh còn vang vọng đến nay, thế thì việc phận gái dự chuyện binh đao đâu phải là hiếm thấy!”

Tướng quân Phạm Ngũ Lão rất thán phục trước sự đối đáp và ý chí mạnh mẽ của cô gái, ông đồng ý cho nàng và đội nghĩa binh đi theo. Cô gái ấy tên là Lương Thái Tần, con một nhà đình khá giả, có truyền thống binh thư võ nghệ.

Từ đó, Lương Thái Tần và đội quân nông dân của nàng đã tham gia nhiều trận đánh do Tướng quân Phạm Ngũ Lão chỉ huy. Về sau ông khuyên nàng đem quân về quê gây dựng đồn lũy, tích trữ lương thảo để cung ứng cho triều đình. Khi về Kiện Khê, Lương Thái Tần vận động dân chúng khai ngòi, khơi mương nước, khẩn đất hoang để trồng cấy, mộ thêm quân lính, rèn đúc vũ khí góp sức vào cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ III (1287 – 1288). 

Nữ thủ lĩnh nghĩa binh vùng Kiện Khê (Hình minh họa)

Lại nói về Phạm Ngũ Lão, sau trận đại thắng, ông được triều đình phong tước lớn nhưng vì công việc bận rộn, lại phải dẫn quân đi đánh Ai Lao xâm phạm bờ cõi phía Tây nên ông chưa có dịp trở lại Kiện Khê để thăm Lương Thái Tần, người con gái mà ông đã thầm yêu mến từ lâu.

Theo chính sử, đầu năm Đinh Dậu (1297) quân Ai Lao lại lấn chiếm biên giới, tràn đến thượng lưu sông Mã, Phạm Ngũ Lão được lệnh dẫn quân đi đánh: “Nước Ai Lao xâm lấn sông Chàng Long, Phạm Ngũ Lão đem quân đánh, quân giặc bị thua, lấy lại được đất cũ. Vua ban vân phù [con so vẽ mây] ban cho Phạm Ngũ Lão” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Sau trận chiến này, Phạm Ngũ Lão về Kiện Khê hỏi cưới Lương Thái Tần. Người vợ thứ của ông không chỉ giỏi chiến trận mà còn rất quan tâm đến đời sống dân chúng, bên cạnh việc khuyến nông, phu nhân còn bỏ tiền  làm cầu đường, xây chùa miếu, cấp phát tiền gạo cho dân nghèo trong vùng, ơn đức rất lớn nên sau này khi mất, triều đình đã phong là Thủy Tinh công chúa.

Đến đời Hậu Lê, một số cư dân Kiện Khê và dân ở Trì Động, huyện Gia Viễn (nay thuộc Ninh Bình) về xã Dương Xá, huyện Mỹ Lộc lập ra trang Năng Lự, họ đã dựng đền thờ Thủy Tinh công chúa vào năm Ất Mão (1435). Ngôi đền đó nay là đền Bản Tỉnh, còn gọi là đền Cột Cờ thuộc phường Ngô Quyền, Thành phố Nam Định (đời Nguyễn thờ thêm Bạch Hoa công chúa Nguyễn Thị Trinh).

Trong sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược có đoạn viết về người vợ thứ của Phạm Ngũ Lão như sau: “Thủy Tinh công chúa tên là Lương Thái Tần, quê ở Kiện Khê Thanh Liêm, năm Đinh Dậu (1297) lấy Phạm Ngũ Lão, làm vợ bé, sinh được 4 trai 1 gái; ngày 2 tháng Giêng phu nhân mất đang niên hiệu Đại Trị năm đầu (1358), có mộ để ở núi Nhân Tập nơi quê sinh, duệ hiệu thờ là Đệ nhị phu nhân Thủy Tinh công chúa”…

Qua đời

Ngày 1 tháng 11 năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày, đây là một đặc ân của nhà vua đối với ông.

Nhân dân xã Phù Ủng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông. Ông cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

Tác phẩm

Mặc dù chuyên lo việc quân, song Phạm Ngũ Lão vẫn "thích đọc sách, ngâm thơ" (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 4, tờ 38a). Thơ văn ông hiện chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán:

  • Thuật hoài (Kể nỗi lòng) làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt.
  • Vãn Hưng Đạo Đại vương (Viếng Hưng Đạo Đại vương) làm theo thể thất ngôn bát cú. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng bài này là của Bùi Tông Hoan

Nhận định

Nhà sử học lỗi lạc của nước nhà ở thế kỉ thứ XV là Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên đã đánh giá rất cao về tài năng phi thường của ông:

“Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện Súy (chỉ Phạm Ngũ Lão) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, nào phải riêng chuyên về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, hễ tấn công là chiếm được, người xưa cũng không ai có thể vượt qua nổi các ông”.

Bài hịch mà Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên nói đến chính là bài Hịch tướng sĩ văn của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, còn lời thơ mà Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên nhắc tới chính là lời thơ trong bài tứ tuyệt của Phạm Ngũ Lão, được hậu thế đặt cho tiêu đề là Thuật hoài.

Theo Đại việt sử ký toàn thư, “Ngũ Lão xuất thân trong hàng quân ngũ nhưng rất thích đọc sách, là người phóng khoáng, có chí lớn, thích ngâm thơ, tựa như không để ý đến việc võ binh. Nhưng, quân ông chỉ huy, thực là đội quân phụ tử, hễ đánh là thắng” .

Lê Quý Đôn thì cho rằng: “Phạm Ngũ Lão là người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như kẻ sĩ đời Tây Hán, thật không phải người tầm thường có thể theo kịp”.

 

Theo Wikipedia & baophapluat.vn

Tham khảo
Các bài viết liên quan